Dự án hạ tầng lớn: Không chờ rủi ro xảy ra mới tính đến bảo hiểm
Trước quy mô và mức độ phức tạp ngày càng lớn của các dự án hạ tầng, bảo hiểm cần được tính đến ngay từ khâu chuẩn bị, gắn với quá trình nhận diện, đánh giá và phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ được xem là công cụ xử lý hậu quả tài chính khi sự cố đã xảy ra.
Quang cảnh Tọa đàm “Quản trị rủi ro các dự án hạ tầng trong kỷ nguyên đầu tư công”.
Sáng 16/9, Báo Xây dựng tổ chức Tọa đàm “Quản trị rủi ro các dự án hạ tầng trong kỷ nguyên đầu tư công”, với sự tham dự của đại diện Bộ Xây dựng, Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, các ban quản lý dự án thuộc Bộ Xây dựng cùng đại diện doanh nghiệp bảo hiểm và tái bảo hiểm.
Tọa đàm diễn ra trong bối cảnh Việt Nam đang triển khai và chuẩn bị đầu tư hàng loạt dự án hạ tầng quy mô lớn như cao tốc, đường sắt, sân bay, cảng biển, năng lượng, hạ tầng số... Cùng với quy mô công trình và nguồn vốn ngày càng lớn, tính chất rủi ro cũng trở nên phức tạp hơn.
Phát biểu khai mạc, ông Nguyễn
Sơn Tùng, Phó Tổng biên tập Báo Xây dựng cho rằng, rủi ro đối với các dự án có
thể đến từ thiên tai, biến đổi khí hậu, điều kiện địa chất, thiết kế, kỹ thuật,
thi công, thiết bị, tiến độ… Một sự cố không chỉ gây thiệt hại về tài sản mà
còn có thể làm chậm tiến độ, phát sinh chi phí và ảnh hưởng tới hiệu quả đầu
tư.
“Vì vậy, vấn đề không chỉ là xử
lý hậu quả khi sự cố xảy ra, mà quan trọng hơn là nhận diện, phòng ngừa và quản
trị rủi ro ngay từ đầu”, ông Nguyễn Sơn Tùng nhấn mạnh.
Rủi ro phải được nhận diện từ
khâu chuẩn bị dự án
Phân tích mức độ rủi ro của
các dự án hạ tầng lớn, ông Đàm Đức Biên, Phó Cục trưởng Cục Kinh tế Quản lý đầu
tư xây dựng (Bộ Xây dựng) cho rằng, các dự án cao tốc, đường sắt tốc độ cao,
sân bay, cảng biển, năng lượng... thường có quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp, nhiều
gói thầu, nhiều nhà thầu và sự liên kết chặt chẽ giữa các hạng mục.
Do đó, quy mô dự án càng lớn
thì rủi ro không chỉ tăng về mức độ mà còn thay đổi về tính chất. Một sự cố ở một
khâu có thể tạo hiệu ứng dây chuyền về chi phí, tiến độ, chất lượng, thậm chí ảnh
hưởng đến khả năng khai thác của cả hệ thống.
Theo ông Biên, có 5 nhóm rủi
ro chính cần lưu ý, gồm rủi ro kỹ thuật; tiến độ; rủi ro tại giao diện giữa các
hợp đồng và nhà thầu; mức độ ảnh hưởng đối với xã hội và quy mô tổn thất. Với
những công trình có giá trị hàng nghìn, hàng chục nghìn tỷ đồng, ngay cả một tỷ
lệ tổn thất tương đối nhỏ cũng có thể tạo ra giá trị thiệt hại rất lớn.
Ông Đàm Đức Biên, Phó Cục trưởng Cục Kinh tế Quản lý đầu tư xây dựng (Bộ Xây dựng) phân tích các nhóm rủi ro đối với những dự án hạ tầng quy mô lớn.
Từ thực tiễn triển khai các dự
án giao thông, ông Lê Văn Bình, đại diện Phòng Khoa học Công nghệ, Ban QLDA
Thăng Long cho biết, rủi ro có thể xuất hiện từ chậm bàn giao mặt bằng, thiếu vật
liệu, biến động chi phí đến những vấn đề về khảo sát, thiết kế, địa chất, thủy
văn, thiên tai, an toàn lao động và trách nhiệm với bên thứ ba.
Theo ông Bình, quản trị rủi ro
phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, gắn trực tiếp với quản lý tiến độ,
chất lượng, chi phí và an toàn. Trước hết phải nhận diện rủi ro từ sớm, phân loại
và xác định mức độ ảnh hưởng; sau đó xây dựng phương án ứng phó đối với những rủi
ro có khả năng xảy ra cao hoặc gây hậu quả lớn.
“Không chờ rủi ro xảy ra mới xử
lý mà phải nhận diện, đánh giá và kiểm soát rủi ro ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự
án và trong toàn bộ quá trình thực hiện”, ông Bình nêu quan điểm.
Từ góc độ tái bảo hiểm, ông Lê
Hoài Nam, Tổng Giám đốc Công ty CP Tái bảo hiểm Alpha (Alphare) cho rằng, bức
tranh rủi ro của các dự án hạ tầng Việt Nam đang ngày càng phức tạp, trong khi
không phải tất cả các rủi ro đều được nhận diện đúng mức.
Qua thực tế làm việc với các dự
án hạ tầng, ông Nam chỉ ra các nhóm rủi ro được chủ đầu tư quan tâm gồm chậm tiến
độ, phát sinh chi phí ngoài dự toán, thiên tai và thời tiết cực đoan, trách nhiệm
với bên thứ ba, lỗi kỹ thuật và khuyết tật tiềm ẩn.
Đáng chú ý, thiên tai không chỉ
là rủi ro trong giai đoạn vận hành mà hiện diện ngay từ khi công trình đang thi
công hoặc vừa hoàn thành. Trong khi đó, nhiều chủ đầu tư dù lo ngại về thiên
tai nhưng chưa lượng hóa được mức tổn thất tối đa có thể xảy ra.
Ông Lê Hoài Nam, Tổng Giám đốc Công ty CP Tái bảo hiểm Alpha (Alphare): Không phải tất cả rủi ro của các dự án hạ tầng hiện nay đều được nhận diện đúng mức.
Việc lượng hóa rủi ro có ý
nghĩa quan trọng, bởi đây là cơ sở để xác định khả năng chịu đựng tổn thất của
dự án, lựa chọn biện pháp phòng ngừa, phần rủi ro có thể tự giữ lại và phần cần
chuyển giao cho thị trường bảo hiểm, tái bảo hiểm.
Bảo hiểm cần tham gia sớm vào
bài toán quản trị rủi ro
Ở góc độ doanh nghiệp trực tiếp
bảo hiểm các công trình, bà Bùi Thị Thanh Xuân, Phó Tổng giám đốc Tổng Công ty
CP Bảo hiểm Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VBI) chỉ ra ba nhóm rủi ro
đáng chú ý.
Đầu tiên là thiên tai cực
đoan, trong đó có sạt lở, lũ quét tại các dự án miền núi, ven sông. Đây là nhóm
rủi ro có thể đồng thời gây thiệt hại tới kết cấu công trình, thiết bị thi công
và tiến độ.
Thứ hai là rủi ro kỹ thuật thi
công, đặc biệt với công trình ngầm hoặc các hạng mục phức tạp. Tần suất có thể
thấp hơn nhưng khi xảy ra thường đòi hỏi quá trình xử lý kỹ thuật phức tạp, kéo
theo nguy cơ chậm tiến độ.
Nhóm thứ ba là trách nhiệm với
bên thứ ba khi thi công trong khu vực đông dân cư, chẳng hạn rung chấn, sụt lún
ảnh hưởng tới nhà dân lân cận. Với các dự án đô thị, hạ tầng ngầm, rủi ro này
có thể làm phát sinh chi phí bồi thường, vấn đề pháp lý và ảnh hưởng trực tiếp
tới tiến độ dự án.
Bà Bùi Thị Thanh Xuân, Phó Tổng giám đốc VBI phân tích ba nhóm rủi ro đáng chú ý gồm thiên tai cực đoan, rủi ro kỹ thuật thi công và trách nhiệm với bên thứ ba.
Điểm đáng lưu ý, theo bà Xuân,
là các nhóm rủi ro này không nhất thiết xảy ra độc lập mà có thể cộng hưởng. Một
sự cố thiên tai có thể đồng thời gây hư hỏng kết cấu, thiết bị, làm gián đoạn
thi công và phát sinh thêm những trách nhiệm khác.
Đây cũng là lý do chương trình
bảo hiểm công trình cần được xem xét trong tổng thể rủi ro của dự án, thay vì
chỉ tiếp cận riêng lẻ từng nguy cơ. Theo bà Xuân, nếu có doanh nghiệp bảo hiểm
tham gia ngay từ đầu, các bên có thể làm kỹ hơn các giải pháp phòng ngừa, đồng
thời lường trước những chi phí có khả năng phát sinh.
Cách tiếp cận này đặc biệt cần
thiết với những dự án lớn, có nhiều gói thầu và hạng mục đan xen. Ông Nguyễn
Văn Diệp, Trưởng phòng Thể chế hợp đồng, Ban QLDA đường sắt cho biết, với những
dự án như vậy, vấn đề bảo hiểm cần được quan tâm từ khâu chuẩn bị đầu tư, thiết
kế đến quá trình thực hiện.
Ban QLDA đường sắt đã hướng tới
thuê đơn vị tư vấn bảo hiểm để nghiên cứu một chương trình tổng thể cho toàn bộ
dự án. Đồng thời, các điều khoản hợp đồng bảo hiểm phải được kiểm soát chặt chẽ,
lường trước những vấn đề rủi ro có thể xảy ra để khi phát sinh tổn thất có đủ
cơ sở pháp lý giải quyết bồi thường theo quy định.
Ông Nguyễn Văn Diệp, Trưởng phòng Thể chế hợp đồng, Ban QLDA đường sắt cho rằng với dự án lớn, nhiều gói thầu đan xen, chương trình bảo hiểm cần được tính toán tổng thể.
Ở góc độ thị trường bảo hiểm,
ông Nguyễn Phong Cầm, Phó Tổng thư ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam cho rằng, bên
cạnh những công trình thuộc diện phải tham gia bảo hiểm bắt buộc theo quy định,
nên khuyến khích các công trình không thuộc diện bắt buộc chủ động tham gia bảo
hiểm.
Theo ông Cầm, việc tham gia bảo
hiểm trước hết giúp bảo vệ tài chính cho chủ đầu tư, nhà thầu trước những sự cố
bất ngờ như thiên tai, cháy nổ hoặc sụp đổ công trình; đồng thời chuyển giao một
phần gánh nặng bồi thường thiệt hại cho doanh nghiệp bảo hiểm.
Bên cạnh đó, bảo hiểm góp phần
tạo sự an tâm cho khách hàng, đối tác và các bên liên quan. Khi sự cố thuộc phạm
vi bảo hiểm xảy ra, nguồn lực từ bảo hiểm có thể hỗ trợ khắc phục hậu quả, hạn
chế tình trạng dự án bị đình trệ do thiếu kinh phí.
Ông Nguyễn Phong Cầm, Phó Tổng thư ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam cho rằng nên khuyến khích các công trình không thuộc diện bắt buộc chủ động tham gia bảo hiểm.
Trong bối cảnh Chính phủ vừa
ban hành Nghị định 220/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến
bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng, việc phân biệt rõ giữa nghĩa
vụ bảo hiểm bắt buộc và nhu cầu bảo vệ tự nguyện có ý nghĩa quan trọng.
Đối với các đối tượng thuộc diện
phải tham gia bảo hiểm bắt buộc, chủ đầu tư và các bên liên quan phải thực hiện
đầy đủ quy định pháp luật. Tuy nhiên, quản trị rủi ro của một dự án hạ tầng có
thể rộng hơn phạm vi bảo hiểm bắt buộc.
Với những công trình không thuộc
diện bắt buộc hoặc những rủi ro nằm ngoài phạm vi bảo hiểm bắt buộc, chủ đầu tư
có thể căn cứ đặc điểm, mức độ rủi ro và nhu cầu bảo vệ để xem xét các giải
pháp bảo hiểm tự nguyện phù hợp. Vấn đề cốt lõi là xác định rủi ro nào có thể
phòng ngừa, rủi ro nào cần giảm thiểu, phần nào có thể tự giữ lại và phần nào cần
chuyển giao cho doanh nghiệp bảo hiểm, tái bảo hiểm.
Những trao đổi tại tọa đàm cho
thấy, với các dự án hạ tầng ngày càng lớn và phức tạp, bảo hiểm không nên chỉ
được tính đến khi hoàn thiện thủ tục hoặc sau khi rủi ro đã xảy ra. Việc nhận
diện, đánh giá và lượng hóa rủi ro từ sớm sẽ tạo cơ sở để lựa chọn phạm vi, điều
kiện và mức độ chuyển giao rủi ro phù hợp.
Bảo hiểm không thay thế quản
trị rủi ro. Nhưng khi được tính toán từ khâu chuẩn bị và đặt đúng vị trí trong
tổng thể quản trị dự án, bảo hiểm có thể giúp chuyển giao một phần tổn thất tài
chính, tạo thêm nguồn lực khắc phục hậu quả và hạn chế tác động dây chuyền tới
chi phí, tiến độ, hiệu quả đầu tư.
Với những dự án hạ tầng quy mô
ngày càng lớn, vì thế, không nên chờ rủi ro xảy ra mới tính đến bảo hiểm.
HIỀN ANH





































(1).jpg)







.jpg)














