Tổng hợp ý kiến đóng góp cho dự thảo Nghị định về bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc
Bộ Tài chính hiện đang được Chính phủ giao xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi Nghị định số 130/2006/NĐ-CP ngày 08/11/2006 của Chính phủ quy định chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc và Điều 2 Nghị định số 46/2012/NĐ-CP ngày22/5/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng cháy, chữa cháy và Nghị định số 130/2006/NĐ-CP ngày 08/11/2006 của Chính phủ quy định chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc.
Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam đã tiến hành tổng hợp ý kiến đóng góp của các hội viên cho dự thảo Nghị định, dưới đây là một số nội dung chính:
1. Điều 4. Đối tượng được bảo hiểm cháy, nổ
bắt buộc
Đề xuất bổ sung thêm:
“b. Các loại hàng hóa, vật tư (bao gồm cả
nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm), tài sản
khác.
Những
tài sản trên được bảo hiểm khi giá trị của tài sản tính được thành tiền”
Lý do: Bổ sung thêm các hạng mục tài sản khác để
Người được bảo hiểm có thể yêu cầu tham gia Bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc (BHCNBB)
cho tài sản có giá trị ngoài các hàng hóa, vật tư, kiến trúc thông thường.
2. Điều 5. Số
tiền bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc tối thiểu
Đề
xuất bỏ chữ “tối thiểu” trên tiêu đề, với lý do đây là quy định việc xác định số
tiền tham gia bảo hiểm, nội dung quy định đã có 03 lựa chọn để xác định số tiền
bảo hiểm cần thiết cho việc ký kết hợp đồng bảo hiểm.
3. Đề xuất bổ sung thêm “Điều 6. Cơ sở giải quyết bồi thường”
trong Nghị định với nội dung như sau:
“Điều
6. Cơ sở giải quyết bồi thường
1.
Mức khấu trừ
Mức khấu trừ là số tiền mà bên mua bảo hiểm phải tự chịu
trong mỗi sự kiện bảo hiểm
2.
Bảo hiểm dưới giá trị
Hợp đồng bảo hiểm dưới giá trị là hợp đồng trong đó số
tiền bảo hiểm thấp hơn giá trị của tài sản được bảo hiểm tại thời điểm giao kết
hợp đồng.
Trong trường hợp Hợp đồng bảo hiểm dưới giá trị được giao
kết, doanh nghiệp bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm bồi thường theo tỷ lệ giữa số
tiền bảo hiểm và giá trị được xác định theo nguyên tắc quy định tại điều 5 Nghị
định này.
3.
Bảo hiểm trùng.
Hợp đồng bảo hiểm trùng là
trường hợp bên mua bảo hiểm giao kết hợp đồng bảo hiểm với hai doanh nghiệp bảo
hiểm trở lên để bảo hiểm cho cùng một đối tượng, với cùng điều kiện và sự kiện
bảo hiểm.
Trong
trường hợp các bên giao kết hợp đồng bảo hiểm trùng, khi xảy ra sự kiện bảo hiểm,
mỗi doanh nghiệp bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm bồi thường theo tỷ lệ giữa số tiền
bảo hiểm đã thỏa thuận trên tổng số tiền bảo hiểm của tất cả các hợp đồng mà
bên mua bảo hiểm đã giao kết. Tổng số tiền bồi thường của các doanh nghiệp bảo
hiểm không vượt quá giá trị thiệt hại thực tế của tài sản.
4.
Căn cứ bồi thường
Số tiền bảo hiểm mà Doanh
nghiệp bảo hiểm phải trả cho người được bảo hiểm được xác định trên cơ sở giá
trị của tài sản được bảo hiểm tại thời điểm, nơi xảy ra tổn thất và mức độ thiệt
hại thực tế, trừ khi có thỏa thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm. Chi phí để xác
định giá trị và mức độ thiệt hại do doanh nghiệp bảo hiểm chịu.
Số tiền bồi thường mà doanh
nghiệp bảo hiểm trả cho người được bảo hiểm không vượt quá số tiền bảo hiểm, trừ
trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm.
Ngoài số tiền bồi thường,
doanh nghiệp bảo hiểm còn phải trả cho người được bảo hiểm những chi phí cần
thiết, hợp lý để đề phòng, hạn chế tổn thất và những chi phí phát sinh mà người
được bảo hiểm phải chịu để thực hiện chỉ dẫn của doanh nghiệp bảo hiểm.
5.
Hình thức bồi thường
Bên
mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm có thể thỏa thuận một trong các hình thức
bồi thường sau đây:
a)
Sửa chữa tài sản bị
thiệt hại;
b)
Thay thế tài sản bị
thiệt hại bằng tài sản khác;
c)
Trả tiền bồi thường;
Trong
trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm không thỏa thuận được về
hình thức bồi thường thì việc bồi thường sẽ được thực hiện bằng tiền.
Trong
trường hợp bồi thường quy định tại điểm b và điểm c trong khoản 4 Điều này,
doanh nghiệp bảo hiểm có quyền thu hồi tài sản bị thiệt hại sau khi đã thay thế
hoặc bồi thường toàn bộ cho tài sản.”
Lý
do:
Đây là các quy định rất quan trọng (đã được quy định tại Luật Kinh doanh bảo hiểm)
và là nguyên lý chung của hợp đồng bảo hiểm tài sảni, nếu Nghị định về BHCNBB
không quy định thì phía người được bảo hiểm sẽ gặp khó khăn khi tham gia giao kết
và thực hiện Hợp đồng bảo hiểm.
4. Điều 7.
Loại trừ trách nhiệm bảo hiểm
Đề
xuất bổ sung các điểm loại trừ sau:
1. Doanh nghiệp bảo hiểm không có
trách nhiệm bồi thường bảo hiểm nếu thiệt hại
xảy ra do một trong những nguyên nhân sau đây gây ra:
a)
Động đất, núi lửa phun hay những biến động khác của thiên
nhiên.
b)
Tài sản tự lên men hoặc tự toả nhiệt.
c)
Tài sản chịu tác động của một quá trình xử lý có dùng
nhiệt.
d)
Sét đánh trực tiếp vào tài sản được
bảo hiểm nhưng không gây cháy, nổ.
e)
Nguyên liệu vũ khí hạt nhân gây cháy, nổ.
f) Thiệt hại
xảy ra đối với máy móc, thiết bị điện hay các bộ phận của thiết bị điện do chạy
quá tải, quá áp lực, đoản mạch, tự đốt nóng, hồ quang điện hay rò điện do bất
kỳ nguyên nhân nào, kể cả do sét đánh. Tuy nhiên, điểm loại trừ này chỉ áp dụng
đối với chính những máy móc, dụng cụ thiết bị điện hoặc những bộ phận của thiết
bị điện chịu tác động trực tiếp của những hiện tượng nêu trên chứ không áp dụng
với những máy móc, dụng cụ và thiết bị điện khác bị phá huỷ, thiệt hại do cháy
phát sinh từ chính các máy móc thiết bị nói trên.
g)
Những thiệt hại do hành động cố ý gây cháy, nổ của bên
mua bảo hiểm nhằm mục đích đòi bồi thường thiệt hại theo Hợp đồng bảo hiểm.
h)
Những thiệt hại do bên mua bảo hiểm cố ý vi phạm các quy
định về phòng cháy và chữa cháy để xảy ra cháy, nổ.
i)
Hàng hoá nhận uỷ thác hay ký gửi trừ khi những hàng hoá
đó được xác nhận trong Giấy chứng nhận bảo hiểm là được bảo hiểm và bên mua bảo
hiểm trả thêm phí bảo hiểm theo quy định.
j)
Tiền, kim loại quý, đá quý, chứng khoán, thư bảo lãnh,
tài liệu, bản thảo, sổ sách kinh doanh, tài liệu lưu trữ trong máy tính điện
tử, bản mẫu, văn bằng, khuôn mẫu, bản vẽ, tài liệu thiết kế, trừ khi những hạng
mục này được xác nhận trong Giấy chứng nhận bảo hiểm.
k)
Chất nổ, trừ khi được xác nhận là được bảo hiểm trong
Giấy chứng nhận bảo hiểm.
l)
Những tài sản mà vào thời điểm xảy
ra tổn thất, được bảo hiểm theo đơn bảo hiểm hàng hải hoặc thuộc trách nhiệm
bảo hiểm theo đơn bảo hiểm hàng hải, trừ phần thiệt hại vượt quá trách nhiệm
bồi thường theo đơn bảo hiểm hàng hải.
m)
Những thiệt hại do cháy, nổ gây ra cho bên thứ ba.
n)
Những thiệt hại đối với dữ liệu,
phần mềm và các chương trình máy tính.
o) Những thiệt
hại do những biến cố về chính trị, an ninh và trật tự an toàn xã hội gây ra.
p) Tài sản bị
đốt cháy theo lệnh của bất kỳ cơ quan công quyền nào.
q) Bất kỳ thiệt
hại gây ra bởi hoặc thông qua hoặc do hậu quả của việc cháy rừng, bụi cây, đồng
cỏ, hoang mạc, rừng nhiệt đới dù là ngẫu nhiên hay không hoặc đốt cháy với mục đích làm sạch ruộng
đồng, đất đai.
r) Cháy do lửa
ngầm dưới đất.
s)
Những trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm khác theo
quy định của pháp luật hoặc do các bên thỏa thuận.
2. Đối với những trường hợp loại trừ
trách nhiệm bảo hiểm nêu trên, nếu bên mua bảo hiểm có nhu cầu bảo hiểm và
doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm thì các bên vẫn có thể thỏa thuận
không loại trừ các trách nhiệm bảo hiểm nêu trên và thỏa thuận phí bảo hiểm bổ
sung tại Hợp đồng bảo hiểm.
Lý
do:
Các điểm loại trừ trên là loại trừ cơ bản trong tất cả các hợp đồng bảo hiểm
Cháy nổ và bảo hiểm tài sản được áp dụng trên toàn thế giới, các DNBH tại Việt Nam
phải áp dụng thì mới đảm bảo việc phân tán tái bảo hiểm cho các hợp đồng bảo hiểm.
Ngoài ra nghị định 130/2006/NĐ-CP hiện tại cũng đang áp dụng các điểm loại trừ
đầy đủ nên giữ nguyên và bổ sung thêm, không nên lược bỏ bớt.
5. Điều 11.
Nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm
Đề xuất điều chỉnh bổ
sung nội dung như sau:
+
Xóa
bỏ cụm từ “… theo yêu cầu của Doanh
nghiệp bảo hiểm” trong Khoản 4.
+
Bổ
sung thêm “Khoản 7. Cung cấp đầy đủ trung
thực thông tin liên quan đến việc giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm”
Lý
do:
+
Nghĩa
vụ của bên mua bảo hiểm là phải thông báo cho DNBH trường hợp nêu trong khoản
4, tuy nhiên DNBH không biết được những trường hợp này để đưa ra yêu cầu. Nếu quy
định như dự thảo thì Bên mua bảo hiểm sẽ quy trách nhiệm cho DNBH và không thực
hiện trách nhiệm của họ.
+
DNBH
đã có trách nhiệm yêu cầu bên mua bảo hiểm về việc cung cấp thông tin, Nghị
định cần đưa trách nhiệm của bên mua bảo hiểm phải cung cấp thông tin cho DNBH.
6. Điều 12.
Quyền của doanh nghiệp bảo hiểm
Đề
xuất điều chỉnh bổ sung nội dung như sau:
+
Bố
sung thêm “Khoản 3 Điểm d) Từ chối bán bảo hiểm trong trường
hợp Bên mua bảo hiểm không thực hiện các công việc cải thiện hệ thống trang
thiết bị Phòng cháy chữa cháy theo nội dung khuyến nghị của cơ quan cảnh sát
Phòng Cháy chữa cháy trong vòng 03 tháng kể từ ngày lập biên bản kiểm tra.”
+
Sửa
“Khoản 4. Thực hiện chế tài bồi thường
bảo hiểm một phần hoặc toàn bộ số tiền bồi thường trong trường hợp cơ sở có
nguy hiểm về cháy nổ không tuân thủ đúng các quy định về phòng cháy, chữa cháy
theo quy định của pháp luật, hoặc không thực hiện đầy đủ, đúng hạn các kiến
nghị của Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy tại biên bản kiểm tra về phòng cháy,
chữa cháy là nguyên nhân gây ra rủi ro cháy, nổ.”
Lý
do:
+
Nâng
cao ý thức trách nhiệm của Bên mua bảo hiểm trong việc phòng chống cháy nổ.
+
Các
nguyên nhân gây ra cháy, nổ với nhiều mức độ nghiêm trọng khác nhau, do vậy
việc áp đặt 1 tỷ lệ chế tài bồi thường là không hợp lý. Cần áp dụng chế tài
nhiều mức khác nhau tùy mức độ nguyên nhân, việc Bên mua bảo hiểm không tuân
thủ đúng các quy định về phòng cháy chữa cháy (PCCC) cũng cần được áp dụng việc
chế tài bồi thường chứ không chỉ việc không thực hiện đầy đủ các kiến nghị theo
biên bản của Cảnh sát PCCC.
7. Điều 14.
Trích nộp kinh phí đóng góp từ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc
Đề
xuất bố sung “Điểm 2. Mức trích nộp kinh phí
đóng góp từ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc là 1% tổng số phí bảo hiểm cháy nổ bắt
buộc theo mức giữ lại của các hợp đồng bảo hiểm gốc trong năm tài chính trước
liền kề năm thực hiện trích nộp của doanh nghiệp bảo hiểm”.
Lý
do:
Hầu hết các hợp đồng BHCNBB đều có số tiền bảo hiểm lớn, các Doanh nghiệp baỏ
hiểm phải tái bảo hiểm cho các nhà tái bảo hiểm trong nước và nước ngoài phần lớn,
các DNBH không thu hồi được khoản kinh phí đóng góp quỹ BHCNBB từ các nhà tái bảo
hiểm, do vậy các DNBH chỉ có thể nộp kinh phí đóng góp BHCNBB trên phí thực giữ
lại.
8. Điều 15.
Quản lý, sử dụng nguồn kinh phí đóng góp từ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc
Đề
xuất điều chỉnh bổ sung nội dung như sau
+
Bố
sung Khoản 2. “… để lập kế hoạch và báo
cáo việc sử dụng nguồn kinh phí…”
+
Sửa
Mục a Khoản 3 “Đầu tư trang thiết bị
phương tiện….. không vượt quá 30%”
thay cho 40%.
+
Sửa
Mục c Khoản 3 “Hỗ trợ công tác điều tra
nguyên nhân vụ cháy…. Không vượt quá 30%” thay cho 20%
Lý
do:
Các DNBH muốn nắm được tình hình thực hiện
việc thu chi kinh phí đóng góp BHCNBB của Cục cảnh sát PCCC thông qua Hiệp hội
bảo hiểm.
9. Điều 17.
Trách nhiệm của Bộ Công an
Đề
xuất điều chỉnh bổ sung nội dung như sau:
+
Bổ
sung Mục b Khoản 2 “… xây dựng kế hoạch
và báo cáo hàng năm sử dụng kinh phí đóng góp…”
+
Bổ
sung Mục c Khoản 2 “… trong phạm vi cả nước trên trang web của Cục cảnh sát phòng cháy
chữa cháy và gửi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua Hiệp hội bảo hiểm Việt
Nam”
+
Bổ
sung Khoản 4 trong Điều này “4. Trường
hợp xảy ra cháy, nổ, cơ quan cảnh sát phòng cháy chữa cháy có trach nhiệm ra
kết luận nguyên nhân thiệt hại theo yêu cầu của Doanh nghiệp bảo hiểm trong
thời gian sớm nhất có thể.”
Lý
do:
+
Các
DNBH muốn nắm được tình hình thực hiện việc thu chi kinh phí đóng góp BHCNBB
của Cục cảnh sát PCCC thông qua Hiệp hội bảo hiểm.
+
Các
DNBH cần tra cứu các thông tin về danh sách các cơ sở phải mua bảo hiểm cháy,
nổ bắt buộc trên trang thông tin điện tử.
+
Các
DNBH cần có kết luận của cơ quan cảnh sát PCCC để làm căn cứ giải quyết bồi thường BHCNBB.
Toàn
văn hồ sơ dự thảo được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ: www.chinhphu.vn mục Lấy ý kiến nhân dân về dự
tharp VBPL































(1).jpg)







.jpg)














